Những công việc trong lĩnh vực thực vật: lựa chọn nghề nghiệp và yêu cầu bằng cấp

Với bằng cấp trong lĩnh vực thực vật, sinh viên có nhiều cơ hội việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp, phòng thí nghiệm, lớp học, hoặc viện điều chế thuốc. Để hiểu rõ hơn về những điểm khác biệt trong lĩnh vực này cũng như định hướng công việc, các bạn cần xem kỹ các thông tin về phát triển nghề nghiệp, mức lương cho các lựa chọn ngành nghề.

Một vài ứng viên tìm kiếm công việc trong ngành thực vật từ những ngành nghề giống như kĩ thuật viên khoa học thực phẩm, nhân viên hóa thực vật, hoặc quản lí nông nghiệp. Họ có thể làm việc trong nhiều lãnh vực bao gồm nông nghiệp, công nghiệp, hoặc những vị trí giảng dạy. Nhìn chung, tất cả các vị trí đều yêu cầu bằng cử nhân hoặc bằng cấp cao hơn.

Tìm những công việc trong lĩnh vực ngành nghề thực vật
*CareerLink Vietnam : Tìm việc làm nhanh – Có nhiều công việc lĩnh vực ngành nghề thực vật
*Thông tin tuyển dụng Bảo Vệ Thực Vật – Có công việc bảo vệ thực vật

Thông tin cần thiết

Hầu hết các ngành nghề trong lĩnh vực thực vật đòi hỏi ứng viên có ít nhất bằng cử nhân và nhiều sinh viên có cả bằng cao học. Với một vài ngành nghề trong lĩnh vực thực vật, kinh nghiệm làm việc có ích hơn tấm bằng cao học.

Lựa chọn nghề nghiệp

Từ dược phẩm đến khoa học thực phẩm, những lĩnh vực nghiên cứu thực vật có những ứng dụng rộng rãi với nhiều lựa chọn ngành nghề khác nhau. Thông qua những lựa chọn có 3 ngành nghề được cân nhắc trong lĩnh vực bao gồm kĩ thuật viên khoa học thực phẩm, kĩ sư hóa sinh, và quản lí nông nghiệp.

  • Kĩ thuật viên khoa học thực phẩm

Từ các loài thực vật được dùng như thực phẩm, một vài sinh viên học chuyên sâu về lĩnh vực thực phẩm được biết đến như nhà khoa học thực phẩm, cũng được biết với tên công nghệ thực phẩm. Họ làm việc để cải tiến thức ăn. Sự tập trung trong các lĩnh vực khác nhau như quá trình sản xuất, đóng gói và chuẩn bị thực phẩm. Họ có thể tạo ra những sản phẩm thức ăn mới.

Dựa trên thống kê nguồn nhân lực Mỹ, nhân lực cho nông nghiệp và kĩ thuật viên khoa học thực phẩm ước tính tăng tầm 5% mỗi năm từ 2014 đến 2024. Thống kê nguồn nhân lực Mỹ cũng cho biết mức lương trung bình của kĩ thuật viên nông nghiệp và kĩ thuật viên hóa thực phẩm vào khoảng 39,000 một năm, con số này đăng tải vào tháng 5 năm 2015.

  • Kỹ sư hóa thực vật

Với việc nghiên cứu hóa chất cho các loài thực vật, kỹ sư hóa tập trung vào công nghệ sinh học tại các phòng thí nghiệm. Họ phân tích cách thực vật lớn, tái tạo và chuyển hóa khi đối mặt với những hợp chất khác nhau. Những nhà sinh hóa và nhà sinh lí kì vọng tăng trưởng 8% vào năm 2014 và 2024 và lương trung bình vào khoảng 93,390 đô la Mỹ dựa trên số liệu tháng 5, năm 2015 của Bộ thống kê nhân lực Mỹ.

  • Quản lí nông nghiệp

Những sinh viên có hứng thú với ngành quản lí nông nghiệp sẽ làm việc tại nông trại hoặc trang trại. Những sinh viên cần có bằng đại học để đáp ứng cho vị trí này thông qua kinh nghiệm và việc học hỏi kinh nghiệm qua công việc cung cấp các kỹ năng cần thiết. Nhà quản lí nông nghiệp xem xét nhiều khía cạnh ảnh hưởng đến sự phát triển mùa vụ và quản lí tồn kho. Theo Bộ thống kê nhân lực Mỹ ngành nghề này có xu hướng giảm 2% từ 2014 đến 2024. Mức lương trung bình vào tháng 5 năm 2015 là 69,880 đô la Mỹ một năm.

Yêu cầu bằng cấp cho ngành nghề thuộc lĩnh vực thực vật

Đối với những sinh viên mới ra trường ngành thuộc lĩnh vực thực vật, việc có trong tay tấm bằng đại học là điều bắt buộc cho việc tìm kiếm việc làm. Tuy nhiên cũng có những ngành đòi hỏi bằng cấp cao học. Nhiều trường có các khóa học dành cho cấp bậc đại học và cao học tại các văn phòng đào tạo chuyên ngành thực vật.

  • Bằng cấp đại học ngành thực vật

Các chương trình đại học 4 năm bao gồm việc nghiên cứu về các môn khoa học như thực vật, con người, và môi trường. Những môn tiên quyết gồm có toán cao cấp, và hóa học. Những môn học bắt buộc để hoàn thành chương trình gồm:

Thực vật học

Sinh lí học thực vật

Sinh thái học

Sinh thái thực vật

  • Bằng cao học ngành thực vật

Sinh viên học từ 2-3 năm để có tấm bằng cao học trong lĩnh vực này. Các sinh viên thường đặt mục tiêu nghề nghiệp trong việc giảng dạy sinh học cấp 3. Sinh viên cần phải có bằng đại học với các môn học tiên quyết mới được nhận vào học chương trình cao học. Các môn học tại chương trình cao học gồm:

Công việc phòng thí nghiệm

Nghiên cứu tại nông trại

Tin sinh học

Các chuyên đề nghiên cứu dành cho cao học.

  • Bằng cấp tiến sĩ về thực vật

Những sinh viên có hứng thú trong lĩnh vực nghiên cứu và lý thuyết nên tham gia chương trình tiến sĩ. Họ phải học từ 2-4 năm cho chương trình tiến sĩ này và thường phải có những đề tài nghiên cứu. Những môn học bao gồm:

Luận án

Mô sinh học nâng cao

Tế bao thực vật

Những ngành nghề về thực vật yêu cầu bằng đại học. Bằng thạc sĩ chuyên ngành có thể được yêu cầu để giảng dạy tại bậc trung học. Bậc tiến sĩ yêu cầu kiến thức chuyên môn cao và hàn lâm hơn dành cho việc nghiên cứu.

Trồng thực vật tự nhiên cho năng xuất thu hoạch cao

Đại học Adelaide, làm việc với các nhóm công nghiệp Nam Úc sẽ giúp những người nông dân và người trồng thiết kế, thực hiện việc trồng trọt tự nhiên để hỗ trợ loài ong và quần thể các loài công trùng khác trong việc thụ phấn cho những cây lan và đợt thu hoạch.

Đây là dự án đầu tiên tại Úc – mong muốn người trồng và đa dạng hóa sinh vật  đều có lợi, điều này tăng cường hiệu xuất thông qua việc cải tiến sự thụ phấn và tăng đa dạng sinh học thông qua tái tạo thực vật bằng các phương pháp trồng tự nhiên.

‘Chúng tôi biết rằng thụ phấn có thể cải thiện bởi việc tái tạo thực vật xung quanh các khu vườn có thể kích thích việc thụ phấn. Điều này là chiến lược được dùng hầu hết tại những vùng làm nghề nông tại châu Âu và Mỹ, nhưng chưa được áp dụng tại Úc’ tiến sĩ Katja Hogendoorn đồng lãnh đạo dự án từ đại học Nông nghiệp, thực phẩm và rượu.

Việc thu hoạch hạnh nhân, táo và cherry đều dựa vào sự thụ phấn của những loài côn trùng trong quá trình thu hoạch hạt, hoặc trái. Sản lượng và chất lượng có thể được cải thiện trong điều kiện thụ phấn tốt.

‘Giống như con người, loài ong cũng cần ăn kiêng đa dạng, trong một số trường hợp, phấn và mật hoa từ nhiều loài hoa khác nhau. Những đợt thu hoạch cho thấy một khía cạnh dinh dưỡng và khi chúng chấm dứt việc thụ phấn, thông thường có rất ít sự đa dạng thực phẩm cho những con ong hút mật tại vùng đồng bằng. Chúng ta đang trông chờ vào việc cải tạo đất đai để đảm bảo số lượng các sinh vật giúp cải tiến quá trình thụ phấn.’ tiến sĩ Hogendoorn cho biết.

Các nhà nghiên cứu từ đại học Adelaide đang vẽ ra sơ đồ hoạt động của các con ong mật và sự thụ phấn tự nhiên tại các khu vực có cải tạo thực vật và trồng trọt tự nhiên với các đợt thu hoạch khác nhau tại vùng Nam Úc. Họ viết ra danh sách ngắn về các loài thụ phấn hiệu quả nhất và xác định các loài thực vật nào được sử dụng trong quá trình thụ phấn từ các nguồn phấn và mật. Điều này cho phép những lựa chọn mang tính chiến lược trong việc cải tạo thực vật và việc chọn lọc loại cây có lợi cho việc thụ phấn.

‘Kết quả quan trọng của dự án là hướng dẫn việc trồng trọt và công cụ trên trang trực tuyến sẽ giúp người dùng lập sơ đồ về việc trồng cây để thu hoạch, và cung cấp môi trường sống cho những sinh vật có ích trong quá trình thụ phấn để tối đa hóa việc tăng năng xuất’ đồng lãnh đạo Viện môi trường của các trường đại học, viện trưởng bảo vệ Thực vật, tiến sĩ Andrew Lowe cho biết. ‘Dự án này này là một ví dụ điển hình trong việc cải tiến như thế nào để tăng năng xuất và tính bền vững trong quá trình thu hoạch và thực phẩm’.

Những đối tác trong dự án bao gồm Lucerne Úc, người trồng Táo và Lê Nam Phi, Cây cho đời, O’Connor NRM, Những lĩnh vực chính và vùng tại Nam Phi (PIRSA), Viện môi trường, Nước và nguồn thiên nhiên, Viện hạnh nhân Úc, Hội đồng thực vật, Viện xanh Úc, Hiệp hội ong Nam Úc, và Tập đoàn phát triển, viện NRM và Viện nghiên cứu khu vực đô thị.

Đại học Adelaide sẽ hợp tác với đại học Sydney về việc tiếp cận ong rừng trong việc thụ phấn trong các đợt thu hoạch cùng Đại học New England và ANU để hiểu về giá trị kinh tế của việc thu hoạch cho những mùa thu hoạch khác nhau.

Dự án sẽ được hỗ trợ thông qua quỹ từ Viện Nông nghiệp và nguồn nước thuộc chính phủ Úc là một phần của chương trình sinh lợi từ việc phát triển đô thị. Tổng giá trị của dự án là 9 triệu đô, với 4.5 triệu đô được huy động từ các hoạt động tại Nam Úc.

Susie Green, nhân viên cấp cao tại Hiệp hội người trồng táo và lê tại Nam Phi: ‘Chúng tôi hi vọng rằng dự án sẽ cho người trồng táo và lê những kiến thức và công cụ để nâng cao khả năng thụ phấn bằng việc cung cấp nguồn lương thực cho ong tự nhiên, ong mật và ong làm tổ.

Thực vật giúp thay đổi khí hậu, nhưng hiện nay nó tùy thuộc vào chúng ta

Những bằng chứng khẳng định những dự tính trong hội nghị đa quốc gia trong mô hình thay đổi khí hậu.

Thực vật hiện nay loại bỏ nhiều CO2 từ môi trường hơn 200 năm về trước, dựa trên công việc mới từ Carnegie’s Joe Berry và được dẫn bởi J. Elliott Campbell của UC Merced. Bằng chứng của nhóm được đăng tải trong tạp chí Tự nhiên, khẳng định bằng chứng dùng trong các mô hình từ hội nghị đa quốc gia về sự thay đổi khí hậu.

Thực vật nhận CO2 như một phần của quá trình quang hợp – một chuỗi phản ứng của tế bào thông qua những chuyển hóa năng lượng Mặt trời thành năng lượng hóa học cho thực phẩm. Cuộc nghiên cứu này từ Campbell, Berry và đồng nghiệp của họ xây dựng một lịch sử mới về sự thay đổi toàn cầu trong hoạt động quang hợp.

Chỉ những loài thực vật được trồng trong nhà kính phát triển nhanh hơn và mạnh hơn khi cung cấp hàm lượng cao khí CO2, những loài thực vật trong hệ thống sinh học tự nhiên được hi vọng tăng trưởng nhanh hơn khi lượng CO2 trong không khí toàn cầu tăng lên. Theo góc nhìn toàn cầu, hiệu ứng này có thể được kì vọng nhiều về việc ổn định hệ thống khí hậu bằng việc chống lại việc tăng lượng khí CO2 từ con người.

Tầm quan trọng của hiệu ứng này dưới cuộc tranh luận. Nó có thể mở rộng phạm vi toàn cầu thay vì thí nghiệm trong phạm vi nhà kính có được hay không? Hoặc những yếu tố khác giới hạn phản ứng hệ thống toàn cầu tăng hiệu ứng nhà kính do khí thải? Theo như việc ghi chép trong thời gian dài, chúng ta có lượng CO2 và nhiệt độ cần thiết để gửi đến các đề án về thay đổi khí hậu.

‘Chúng ta hoàn thành vài việc mới tại nơi đây’ Campell cho biết. ‘Đo lường độ quang hợp chính xác của từng loại lá. Tuy nhiên bạn không thể có bức tranh toàn cảnh và chúng ta cần biết rằng Trái Đất đang chuyển động và nó phản ứng lại qua thời gian’

Nhóm thực hiện những công việc trước đó để cho thấy về việc tập trung của các-bon-sun-phíc trong không khí có thể cho thấy mức độ quang hợp toàn cầu. Họ tái lập lại lịch sử bằng cách dùng không khí của băng và khối tuyết tại Nam Cực trong nhiều thế kỉ, quang phổ tia hồng ngoại tồn tại từ những thập niên 1970, và dữ liệu từ Quản lí Đại Dương và Khí Tượng cho biết mạng lưới mẫu khí ga các-bon-sun-phíc tại nhà kính bắt đầu được quản lí từ cuối thập niên 1990.

Kết quả cho thấy rằng sự quang hợp trên toàn cầu ổn định suốt hàng trăm năm qua trước khi có cuộc các mạng công nghiệp hóa, nhưng sau đó chúng phát triển quá nhanh suốt thế kỉ 20. Việc tăng cường quang hợp có mối liên hệ với việc tăng lượng CO2 trong không khí do việc đốt cháy nhiên liệu.

‘Hiện tượng cây thải ra CO2 vào không khí cũng là nguyên nhân của việc thay đổi khí hậu trong nhiều năm nay’ Berry giải thích, ‘nhưng điều đó thực sự khó khăn để biết sức mạnh của việc ảnh hưởng trong khía cạnh thực tế. Kết quả mới của chúng tôi cho rằng hàng loại những mô hình được dùng trong bài kiểm định IPCC, trong thực tế, bao gồm những ước lượng thực tế về quang hợp toàn cầu và CO2’

‘Nó có thể hấp dẫn trong việc truyền tải những kết quả và là bằng chứng về chức năng của Trái Đất cũng là phản hồi về sự tập trung ổn định CO2 và khí hậu’ Berry cho biết. ‘Nhưng khi nhu cầu thực sự tăng lên trong khi đó quang hợp không nhiều đủ để bù đắp cho việc đốt cháy nhiên liệu. Việc làm ngược lại với tự nhiên không còn là công việc nên ngày nay chúng ta sẽ phải tập trung giải quyết việc giảm lượng CO2 trong không khí’

 

 

5 cách đáng kinh ngạc của thực vật tạo nên những công nghệ mới

Những nhà khoa học kết luận rằng những phương pháp mới lạ cho các khám phá mới là dùng đến rau bina. Những loài thực vật sẽ thụ phấn dưới ánh đèn huỳnh quang trong khi đó những tuýp nano sẽ phát ra ánh sáng hồng ngoại. Với sự tồn tại của các hóa chất, đèn tắt và điều đó được dùng như một tín hiệu cho việc phát nổ tức thời. Sự thay đổi trong sự phát quang nhờ vào việc thay đổi điện thoại di động.
Nhưng tại sao việc biến đổi rau bi na thay vì những ống nano là ý tưởng của họ? Nó thực sự là lượng nước chảy trong gốc rễ đến từ hàng cây kẽ lá mà không dùng đến nhiều năng lượng. Trong trường hợp này, rau bi na được dùng như hệ thống tưới cây tự động cho sự bùng nổ những ống nano.

Ấn tượng là một trong những lí do tại sao những loài cây thường được dùng không chỉ như thức ăn và quần áo mà còn là công nghệ phức tạp. Đây là một vài cách đáng ngạc nhiên chúng ta có thể dùng thực vật trong công nghệ.

Sự khử độc

Cây cối có khả năng xử lí nước có thể cũng được dùng trong phương pháp xử lí nước và đất nhờ vào thực vật. Chất gây ô nhiễm đất tan vào trong nước và được hút bởi các cây, chúng được truyền lên lá và tích trữ trong quá trình tích trữ bay hơi của nước. Những loài cây có thể sau đó được thu hoạch và bị phá hủy. Nó được sử dụng để khử độc Asen và chì. Chất gây ô nhiễm cho cây như ca-đi-mi hoặc ni-ken và quá trình khắc phục gọi là trồng trọt trên vùng đất có nhiều tạp chất.

Trong thời đại hiện nay, những loài thực vật đều bị biến đổi gien để kết hợp với khả năng xử lí lượng nước cùng các loại vi khuẩn. Điều này có nghĩa chúng ta có thể sản sinh ra các loài thực vật biến đổi gien và có thể làm giảm bớt lượng chất nổ.

Chất nổ

Thực vật không chỉ được dùng với mục đích hòa bình. Vào năm 1846, Christian Schönbein thực hiện thí nghiệm tại nhà bếp. Ông đổ hỗn hợp a-xít lên tấm vải và sau đó ông dùng tạp dề của vợ. Nó thực sự tuyệt vời sau khi ông nhanh chóng rửa chúng, và ông đã hong khô bằng lò. Đợt cháy nổ đã được dập tắt khi chiếc tạp dề bị cháy nổ.

Schönbein đã chuyển đổi chất cô-tông của chiếc tạp dề thành ni-tơ cen-lu-lô-dơ, vụ nổ thực sự lớn hơn chất nổ TNT. Cen-lu-lô-dơ là một dạng của cotton cháy là thành phần cấu trúc chính của thực vật và phân tử sinh học phổ biến trên Trái đất. Cen-lu-lô-dơ dễ dàng được sử dụng và ni-tơ cen-lu-lô-dơ phản ứng mạnh hơn cả thuốc súng và cô-tông cháy được thay thế thuốc súng cho nhiều mục đích khác nhau vào thế kỉ 19.

Trong tiểu thuyết ‘Từ Trái đất đến mặt trăng’, Jules Verne đã kể về những nhà du hành trong không gian sử dụng khẩu súng lớn để khai hỏa đã dùng ni-tơ cen-lu-lô-dơ. Trong thực tế, không gian những nhà du hành của Verne xoay chuyển rất nhanh chóng. Nhưng anh ta vẫn hoàn toàn dùng ni-tơ cen-lu-lô-dơ thay thế xăng cho hỏa tiễn ngày nay – đặc biệt áp dụng cho quân sự, bởi vì nó không tạo ra khói.

Băng nhựa

Ni-tơ cen-lu-lô-dơ và những thực vật chứa ni-trát pô-ly-sa-rít cũng được dùng cho việc làm ra nhựa.

Người ta dùng Ni-tơ cen-lu-lô-dơ để làm ra cuốn phim ở thời đại trước và có thể bị đốt cháy hoặc phát nổ khi máy chiếu quá nóng. Những chất liệu khác được thay thế để an toàn hơn nhưng chất lỏng chứa dung môi ni-tơ cen-lu-lô-dơ vẫn được dùng trong y học. Nó được vẽ qua những vết cắt, và niêm chúng trong những cuộn phim có chứa Ni-tơ cen-lu-lô-dơ.

Những loài cây sản sinh pô-ly-me sinh học sẽ giúp thân thiện môi trường và là chất thay thế cho dầu và nhựa, đó cũng là thời gian để những chất khác từ tự nhiên khôi phục lại.

Thịt dành cho người ăn chay

Rõ ràng những loài thực vật tạo nên những thành phần cơ bản trong hầu hết các món ăn, nhưng những nhà khoa học ngày nay đã tạo nên bánh mì kẹp có vẻ ngoài, hương vị, cho mọi người khẩu vị như thịt khi nấu mặc dù nó được chế biến từ thực vật. Họ làm món này để tạo nên sự khác biệt. Ví dụ, để chế biến món ăn này với thịt bên trong, loại bơ-gơ mới có dầu thực vật ở thể rắn trong nhiệt độ phòng nhưng tan chảy khi làm nóng. Chất béo được dùng chiết xuất từ những trái dừa.

Thực vật không có chất đạm có huyết sắc tố và chất đạm tốt cho cơ những chất này tạo ra màu đỏ của thịt cùng với chất sắt. Nhưng một vài loài thực vật có chứa sắc tố hồng như huyết sắc tố và chất đạm cho cơ phát triển, hấp thụ ô-xy. Sắc tố hồng đến từ các loài thực vật như đậu có nốt sần với những con vi khuẩn chuyển hóa ni-tơ từ không khí đến phân bón cho cây.

Ô-xy ảnh hưởng đến hệ thống chuyển hóa ni-tơ rất nhiều, những thành phần có thể mất 99% khả năng chuyển hóa trong vòng ít hơn 6 phút. Nên việc đảm bảo sắc tố hồng chúng ta cần tăng lượng ô-xy trong các nốt sần. Những nốt sần có chứa ni-tơ sẽ có màu đỏ máu bên trong bởi vì sắc tố hồng có màu gần giống với huyết sắc tố.

Sắc tố hồng dùng trong bánh bơ-gơ thực vật chứa chất sắt mặc dù không làm từ thực vật bởi vì điều đó không hiệu quả và khả thi. Thay vì vậy người ta dùng đến phương pháp cấy men có màu đỏ máu như trong phim True Blood.

 

Thực vật hạt kín hai lá mầm giúp ngăn sức nóng toàn cầu ảnh hưởng đến thu hoạch.

Chắc chắn rằng loài thực vật thuộc họ Phiên hạnh có thể trở thành vũ khí tuyệt vời trong cuộc chiến chống lại thay đổi khí hậu, điều này gây hại đến các khu vực dùng nhiên liệu sinh học trong quá trình thu hoạch. Nhà sinh hóa và sinh học phân tử John Cushman tại đại học Nevada, Reno sẽ vẽ gen mô phỏng của loài thực vật thuộc họ Phiên hạnh. Điều này giúp tìm ra phương pháp tốt hơn cho phép năng lượng sinh học trong việc giải quyết vấn đề nồng độ muối trong đất và hạn hán.

Phòng thí nghiệm của Sushma đang nghiên cứu về chức năng của gen về quá trình trao đổi chất axit crassulacean hoặc CAM, cách giữ nước khi quang hợp giúp cây sống theo mùa trong khí hậu khô cằn hoặc cung cấp nước không liên tục. Viện ghép gen đã chọn nghiên cứu của Cushman với loài thực vật Phiên hạnh như một trong 37 dự án trong chương trình Khoa học cộng đồng. Viện tổ chức cuộc thi Khoa học cộng đồng giữa các nhà nghiên cứu nhằm khám phá các cách giải quyết về các thách thức năng lượng và môi trường. Mục tiêu của chương trình gen thực vật là tạo ra những hình ảnh mô tả về gen cho những đợt thu hoạch điều này quan trọng đối với nguồn năng lượng sinh học dự trữ’ Cushman cho biết. ‘Tuy nhiên những loài được chọn cũng bao gồm những mẫu thực vật phát triển nhanh chóng và dễ dàng nghiên cứu để cải tiến việc hiểu rõ về chức năng gen’.

Mục tiêu của việc nghiên cứu trong phòng thí nghiệm của Cushman là hiểu áp lực của môi trường và kiểm soát đồng hồ sinh học đối với quang hợp CAM như thế nào. Những thành viên của phòng thí nghiệm thực hiện việc tương tác transcriptome, proteome và metabolome sử dụng để phân tích các cây thuộc họ Phiên Hạnh, điều này giúp nó có thể sống sót ở môi trường khắc nghiệt.

‘Nó thực sự đơn giản’Cushman cho biết. ‘Chúng ta thở ra khí CO2 và các khí nhà kính khác vào không khí và nhiệt độ trung bình xung quanh tăng lên. Nhiều hơi nóng sẽ dẫn đến khả năng đất khô cằn tăng lên và mất nước nên không khí nên lạnh để giảm khả năng hạn hán. Vậy nên một trong những dự đoán về việc trái đất nóng dần lên là do sức nóng này. Chúng ta sẽ cần phát triển nhiều loài thực vật có khả năng chịu hạn hán trong tương lai’.

Họ phiên hạnh, bắt nguồn từ vùng Namibia sa mạc tại châu Phi, quan trọng hơn là những loài thực vật đầu tiên được báo cáo có thể chuyển từ quang hợp C3 (xảy ra suốt ngày) sang quang hợp CAM (xảy ra vào buổi tối) theo lượng muối hoặc xử lí quá trình thiếu nước. Những cây có quá trình quang hợp CAM cần lượng nước gấp 5-6 lần so với loại quang hợp C3.

‘Chúng ta sẽ lên danh sách những mẫu gen để biết chính xác những gen nào quan trọng đối với quá trình quang hợp CAM, và tại sao loài phiên hạnh là  loài thực vật quan trọng mà DOE quan tâm’ Cushman cho biết. ‘Vì vậy hiện nay chúng ta có thể mang gen của họ phiên hạnh nghiên cứu lại và so sánh chúng với việc quang hợp C3 của giống lúa và lúa mì hoặc năng lượng sinh học rừng, điều này giúp chúng ta sử dụng nước một cách hiệu quả.’

Dự án của Cusman đang tiến hành, ông cho biết nó mất khoảng vài năm để hiểu hoàn toàn những loài thực vật chống lại hạn hán và nhiệt độ như thế nào, và nghiên cứu có thể cải tiến xăng sinh học và an toàn trong việc thu hoạch cây trồng. Việc hợp tác trong dự án với Viện ghép Gen sẽ cung cấp việc tiếp cận các nguồn lực và những cơ sở vật chất cho phòng thí nghiệm của ông để tiếp tục quá trình nghiên cứu.

Những dự án CSP mới được chọn thông qua quá trình xem sơ lược, những thí nghiệm, khả năng phân tích của JGI và xây dựng hồ sơ của họ trong những lĩnh vực chủ chốt bao gồm việc sản xuất năng lượng sinh học, mô thực vật và thực địa’ Susannah Tringe, Bộ phận chương trình người dùng JGI DOE, cho biết trong hồ sơ Khoa học cộng đồng 2017.

‘Dự án của chúng tôi và dự án CSP của cộng sự chúng tôi tại phòng thí nghiệm quốc gia Oak Ridge và trường đại học Liverpool, và Newcastle tại Anh trên mẫu thực vật CAM được gọi là Kalanchoe, còn được biết đến với tên CAM’ Cushman cho biết. ‘CAM tồn tại trên hơn 60% các loài thực vật thuộc 36 họ thực vật, nó gần như là tập tính sinh học để thích nghi môi trường.’

Cushman nhận bằng đại học từ cao đẳng Ursinus tại Collegeville, Pennsylvania, và bằng Thạc sĩ và Tiến sĩ từ đại học Rutgers, New Brunswick, New Jersey. Ông dạy học tại đại học Nevada từ 2000, và lập quỹ giáo sư tại trường Nông nghiệp, công nghệ sinh học và nguồn tự nhiên, và được biết đến với vai trò giám đốc chường trình Thạc sĩ Hóa sinh. Ông được ghi tên vào những nhà nghiên cứu của năm bởi hệ thống giáo dục cao học Nevada.

Cushman đang hướng đến Nông nghiệp tại những vùng đất khô cằn của các trường cao đẳng để sản xuất thu hoạch trong điều kiện đất khô hạn bằng việc phát triển hệ thống sản xuất nông nghiệp, cải thiện hiệu quả những nguồn không tái tạo được và tương tác nơi phù hợp, vòng sinh học tự nhiên và kiểm soát khí hậu và sản xuất – liên quan đến những thách thức thực phẩm và chất xơ đảm bảo an toàn cho những thế hệ tương lai.