Dâu tây trở thành đồng hồ báo mùa kế tiếp táo nở rộ

Người trồng theo dõi thời gian dâu nở có thể đoán mùa táo kế tiếp để có kế hoạch thu hoạch tốt hơn dựa vào đợt nghiên cứu mới.

Khi cây táo nở, những bông hoa thu hút các loài sinh vật đến thụ phấn một số ít con ong không hút mật và thụ phấn vào những đợt thu hoạch cận kề nhau của dâu và làm giảm sản lượng. Tuy nhiên, nếu người trồng canh thời gian dâu nở ngay sau mùa táo, dâu có thể cho ra sản lượng nhiều hơn nếu không có cây táo nở hoa ngay thời điểm đó.

Theo các dẫn chứng được đăng tải vào 27 tháng 3 trên các báo cáo khoa học tự nhiên, những người trồng bằng phương pháp trên giúp gia tăng sản lượng thu hoạch hơn so với việc trồng dâu cùng thời điểm với táo. Nghiên cứu cho thấy rằng dâu tăng hơn 40% sản lượng khi ong và các loài côn trùng khác đến thụ phấn thay vì thụ phấn nhờ vào gió.

‘Chúng tôi đang cố gắng tìm ra những phương pháp giúp người trồng có thể sử dụng hệ thống môi trường để tăng sản lượng thu hoạch hơn việc dựa vào những tác nhân bên ngoài như phân bón và thuốc trừ sâu’ tác giả  Heather Grab cho biết, nghiên cứu sinh học chương trình tiến sĩ tại phòng nghiên cứu của đồng tác giả Bryan Danforth, tiến sĩ về côn trùng học.

Dựa vào nghiên cứu, môi trường sống tự nhiên của thực vật xung quanh tại các cánh đồng của nông trại có thể cải thiện sức khỏe của những động vật thụ phấn và tăng cường khả năng hoạt động hiệu quả. Tuy nhiên, hiện nay có nhiều người trồng trong khu vực chật chội và nhỏ hẹp, ngoài việc tăng môi trường sống tự nhiên bạn không còn bất kì lựa chọn nào.

‘Một vài người trồng cần có nhiều sự lựa chọn về phương pháp trồng trọt’ Grab cho biết. ‘Nếu người trồng chú ý vào thời điểm khi hoa nở và trồng các loại táo và những loại dâu khác thì sẽ không có vấn đề chồng chéo thời gian trồng, bạn có thể gia tăng sản lượng nhờ vào môi trường sống tự nhiên thích hợp’.

Những người trồng thường dùng các hệ thống trồng cây phủ gốc để trì hoãn việc dâu nở hoa. Những nhà nghiên cứu thực hiện việc nghiên cứu tại Finger lakes khu vực phía trên New York đã khám phá những động vật thụ phấn đa dạng với ít nhất 65 loài thụ phấn cho táo và dâu, với việc trồng các loại cây đan xen nhau trong cả 2 đợt thu hoạch. Hầu hết những con ong thợ thụ phấn cho táo và dâu.

Grab và đồng nghiệp của cô xây dựng thí nghiệm những luống dâu trồng trong chậu tại vườn dâu và được kiểm soát lượng nước, đất và chất lượng, động vật ăn cỏ, và thời gian hoa dâu nở. Những vườn táo trồng trên dốc và những khu vực bên cạnh không hề trồng táo. Họ tạo ra những cái bẫy ong tại các khu vực đó. Họ đặt những chiếc chậu trồng dâu vào 3 thời điểm khác nhau trong suốt thời gian trước khi táo nở, thời điểm hoa táo nở rộ, và thời điểm hoa táo tàn.

Công việc sắp tới sẽ cho ta biết được chiến lược này có tạo nên lợi ích cho các sinh vật thụ phấn và nguồn thức ăn kéo dài từ lúc này đến lúc khác hay sẽ ít dần đi.

Những công việc trong lĩnh vực thực vật: lựa chọn nghề nghiệp và yêu cầu bằng cấp

Với bằng cấp trong lĩnh vực thực vật, sinh viên có nhiều cơ hội việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp, phòng thí nghiệm, lớp học, hoặc viện điều chế thuốc. Để hiểu rõ hơn về những điểm khác biệt trong lĩnh vực này cũng như định hướng công việc, các bạn cần xem kỹ các thông tin về phát triển nghề nghiệp, mức lương cho các lựa chọn ngành nghề.

Một vài ứng viên tìm kiếm công việc trong ngành thực vật từ những ngành nghề giống như kĩ thuật viên khoa học thực phẩm, nhân viên hóa thực vật, hoặc quản lí nông nghiệp. Họ có thể làm việc trong nhiều lãnh vực bao gồm nông nghiệp, công nghiệp, hoặc những vị trí giảng dạy. Nhìn chung, tất cả các vị trí đều yêu cầu bằng cử nhân hoặc bằng cấp cao hơn.

Tìm những công việc trong lĩnh vực ngành nghề thực vật
*CareerLink Vietnam : Tìm việc làm nhanh – Có nhiều công việc lĩnh vực ngành nghề thực vật
*Thông tin tuyển dụng Bảo Vệ Thực Vật – Có công việc bảo vệ thực vật

Thông tin cần thiết

Hầu hết các ngành nghề trong lĩnh vực thực vật đòi hỏi ứng viên có ít nhất bằng cử nhân và nhiều sinh viên có cả bằng cao học. Với một vài ngành nghề trong lĩnh vực thực vật, kinh nghiệm làm việc có ích hơn tấm bằng cao học.

Lựa chọn nghề nghiệp

Từ dược phẩm đến khoa học thực phẩm, những lĩnh vực nghiên cứu thực vật có những ứng dụng rộng rãi với nhiều lựa chọn ngành nghề khác nhau. Thông qua những lựa chọn có 3 ngành nghề được cân nhắc trong lĩnh vực bao gồm kĩ thuật viên khoa học thực phẩm, kĩ sư hóa sinh, và quản lí nông nghiệp.

  • Kĩ thuật viên khoa học thực phẩm

Từ các loài thực vật được dùng như thực phẩm, một vài sinh viên học chuyên sâu về lĩnh vực thực phẩm được biết đến như nhà khoa học thực phẩm, cũng được biết với tên công nghệ thực phẩm. Họ làm việc để cải tiến thức ăn. Sự tập trung trong các lĩnh vực khác nhau như quá trình sản xuất, đóng gói và chuẩn bị thực phẩm. Họ có thể tạo ra những sản phẩm thức ăn mới.

Dựa trên thống kê nguồn nhân lực Mỹ, nhân lực cho nông nghiệp và kĩ thuật viên khoa học thực phẩm ước tính tăng tầm 5% mỗi năm từ 2014 đến 2024. Thống kê nguồn nhân lực Mỹ cũng cho biết mức lương trung bình của kĩ thuật viên nông nghiệp và kĩ thuật viên hóa thực phẩm vào khoảng 39,000 một năm, con số này đăng tải vào tháng 5 năm 2015.

  • Kỹ sư hóa thực vật

Với việc nghiên cứu hóa chất cho các loài thực vật, kỹ sư hóa tập trung vào công nghệ sinh học tại các phòng thí nghiệm. Họ phân tích cách thực vật lớn, tái tạo và chuyển hóa khi đối mặt với những hợp chất khác nhau. Những nhà sinh hóa và nhà sinh lí kì vọng tăng trưởng 8% vào năm 2014 và 2024 và lương trung bình vào khoảng 93,390 đô la Mỹ dựa trên số liệu tháng 5, năm 2015 của Bộ thống kê nhân lực Mỹ.

  • Quản lí nông nghiệp

Những sinh viên có hứng thú với ngành quản lí nông nghiệp sẽ làm việc tại nông trại hoặc trang trại. Những sinh viên cần có bằng đại học để đáp ứng cho vị trí này thông qua kinh nghiệm và việc học hỏi kinh nghiệm qua công việc cung cấp các kỹ năng cần thiết. Nhà quản lí nông nghiệp xem xét nhiều khía cạnh ảnh hưởng đến sự phát triển mùa vụ và quản lí tồn kho. Theo Bộ thống kê nhân lực Mỹ ngành nghề này có xu hướng giảm 2% từ 2014 đến 2024. Mức lương trung bình vào tháng 5 năm 2015 là 69,880 đô la Mỹ một năm.

Yêu cầu bằng cấp cho ngành nghề thuộc lĩnh vực thực vật

Đối với những sinh viên mới ra trường ngành thuộc lĩnh vực thực vật, việc có trong tay tấm bằng đại học là điều bắt buộc cho việc tìm kiếm việc làm. Tuy nhiên cũng có những ngành đòi hỏi bằng cấp cao học. Nhiều trường có các khóa học dành cho cấp bậc đại học và cao học tại các văn phòng đào tạo chuyên ngành thực vật.

  • Bằng cấp đại học ngành thực vật

Các chương trình đại học 4 năm bao gồm việc nghiên cứu về các môn khoa học như thực vật, con người, và môi trường. Những môn tiên quyết gồm có toán cao cấp, và hóa học. Những môn học bắt buộc để hoàn thành chương trình gồm:

Thực vật học

Sinh lí học thực vật

Sinh thái học

Sinh thái thực vật

  • Bằng cao học ngành thực vật

Sinh viên học từ 2-3 năm để có tấm bằng cao học trong lĩnh vực này. Các sinh viên thường đặt mục tiêu nghề nghiệp trong việc giảng dạy sinh học cấp 3. Sinh viên cần phải có bằng đại học với các môn học tiên quyết mới được nhận vào học chương trình cao học. Các môn học tại chương trình cao học gồm:

Công việc phòng thí nghiệm

Nghiên cứu tại nông trại

Tin sinh học

Các chuyên đề nghiên cứu dành cho cao học.

  • Bằng cấp tiến sĩ về thực vật

Những sinh viên có hứng thú trong lĩnh vực nghiên cứu và lý thuyết nên tham gia chương trình tiến sĩ. Họ phải học từ 2-4 năm cho chương trình tiến sĩ này và thường phải có những đề tài nghiên cứu. Những môn học bao gồm:

Luận án

Mô sinh học nâng cao

Tế bao thực vật

Những ngành nghề về thực vật yêu cầu bằng đại học. Bằng thạc sĩ chuyên ngành có thể được yêu cầu để giảng dạy tại bậc trung học. Bậc tiến sĩ yêu cầu kiến thức chuyên môn cao và hàn lâm hơn dành cho việc nghiên cứu.

Trồng thực vật tự nhiên cho năng xuất thu hoạch cao

Đại học Adelaide, làm việc với các nhóm công nghiệp Nam Úc sẽ giúp những người nông dân và người trồng thiết kế, thực hiện việc trồng trọt tự nhiên để hỗ trợ loài ong và quần thể các loài công trùng khác trong việc thụ phấn cho những cây lan và đợt thu hoạch.

Đây là dự án đầu tiên tại Úc – mong muốn người trồng và đa dạng hóa sinh vật  đều có lợi, điều này tăng cường hiệu xuất thông qua việc cải tiến sự thụ phấn và tăng đa dạng sinh học thông qua tái tạo thực vật bằng các phương pháp trồng tự nhiên.

‘Chúng tôi biết rằng thụ phấn có thể cải thiện bởi việc tái tạo thực vật xung quanh các khu vườn có thể kích thích việc thụ phấn. Điều này là chiến lược được dùng hầu hết tại những vùng làm nghề nông tại châu Âu và Mỹ, nhưng chưa được áp dụng tại Úc’ tiến sĩ Katja Hogendoorn đồng lãnh đạo dự án từ đại học Nông nghiệp, thực phẩm và rượu.

Việc thu hoạch hạnh nhân, táo và cherry đều dựa vào sự thụ phấn của những loài côn trùng trong quá trình thu hoạch hạt, hoặc trái. Sản lượng và chất lượng có thể được cải thiện trong điều kiện thụ phấn tốt.

‘Giống như con người, loài ong cũng cần ăn kiêng đa dạng, trong một số trường hợp, phấn và mật hoa từ nhiều loài hoa khác nhau. Những đợt thu hoạch cho thấy một khía cạnh dinh dưỡng và khi chúng chấm dứt việc thụ phấn, thông thường có rất ít sự đa dạng thực phẩm cho những con ong hút mật tại vùng đồng bằng. Chúng ta đang trông chờ vào việc cải tạo đất đai để đảm bảo số lượng các sinh vật giúp cải tiến quá trình thụ phấn.’ tiến sĩ Hogendoorn cho biết.

Các nhà nghiên cứu từ đại học Adelaide đang vẽ ra sơ đồ hoạt động của các con ong mật và sự thụ phấn tự nhiên tại các khu vực có cải tạo thực vật và trồng trọt tự nhiên với các đợt thu hoạch khác nhau tại vùng Nam Úc. Họ viết ra danh sách ngắn về các loài thụ phấn hiệu quả nhất và xác định các loài thực vật nào được sử dụng trong quá trình thụ phấn từ các nguồn phấn và mật. Điều này cho phép những lựa chọn mang tính chiến lược trong việc cải tạo thực vật và việc chọn lọc loại cây có lợi cho việc thụ phấn.

‘Kết quả quan trọng của dự án là hướng dẫn việc trồng trọt và công cụ trên trang trực tuyến sẽ giúp người dùng lập sơ đồ về việc trồng cây để thu hoạch, và cung cấp môi trường sống cho những sinh vật có ích trong quá trình thụ phấn để tối đa hóa việc tăng năng xuất’ đồng lãnh đạo Viện môi trường của các trường đại học, viện trưởng bảo vệ Thực vật, tiến sĩ Andrew Lowe cho biết. ‘Dự án này này là một ví dụ điển hình trong việc cải tiến như thế nào để tăng năng xuất và tính bền vững trong quá trình thu hoạch và thực phẩm’.

Những đối tác trong dự án bao gồm Lucerne Úc, người trồng Táo và Lê Nam Phi, Cây cho đời, O’Connor NRM, Những lĩnh vực chính và vùng tại Nam Phi (PIRSA), Viện môi trường, Nước và nguồn thiên nhiên, Viện hạnh nhân Úc, Hội đồng thực vật, Viện xanh Úc, Hiệp hội ong Nam Úc, và Tập đoàn phát triển, viện NRM và Viện nghiên cứu khu vực đô thị.

Đại học Adelaide sẽ hợp tác với đại học Sydney về việc tiếp cận ong rừng trong việc thụ phấn trong các đợt thu hoạch cùng Đại học New England và ANU để hiểu về giá trị kinh tế của việc thu hoạch cho những mùa thu hoạch khác nhau.

Dự án sẽ được hỗ trợ thông qua quỹ từ Viện Nông nghiệp và nguồn nước thuộc chính phủ Úc là một phần của chương trình sinh lợi từ việc phát triển đô thị. Tổng giá trị của dự án là 9 triệu đô, với 4.5 triệu đô được huy động từ các hoạt động tại Nam Úc.

Susie Green, nhân viên cấp cao tại Hiệp hội người trồng táo và lê tại Nam Phi: ‘Chúng tôi hi vọng rằng dự án sẽ cho người trồng táo và lê những kiến thức và công cụ để nâng cao khả năng thụ phấn bằng việc cung cấp nguồn lương thực cho ong tự nhiên, ong mật và ong làm tổ.

Hạt giống mù tạc không có vị mù tạc: thu hoạch hạt dầu thô có thể chống lại việc trái đất nóng lên.

Trường đại học Copenhagen và công ty toàn cầu Bayer CropScience thành công khi phát triển việc thu hoạch hạt dầu non nhiều hơn để chống lại nhiệt độ, hạn hán và bệnh hơn hạt cây cải dầu. Khả năng vỡ kế hoạch rất lớn cho thấy từ bài viết về cây cải dầu trên tạp chí Kỹ thuật sinh y sinh tự nhiên đăng tải vào tháng Tư, đây là tạp chí uy tín nhất trong giới nghiên cứu kỹ thuật y sinh.

Việc những bông hoa vàng nở rộ khắp cánh đồng đánh đấu sự bắt đầu mùa hè tại Bắc Âu. Tuy nhiên, nếu tình trạng trái đất nóng lên vẫn tiếp diễn, hình ảnh những cánh đồng hoa vàng dưới bầu trời xanh mùa hè sẽ sớm trở thành những ký ức. Tuy nhiên, vẫn còn hi vọng vào việc thu hoạch những hạt dầu thô non để chống lại sự thay đổi khí hậu.

Thay đổi khí hậu đe dọa đến việc thu hoạch hạt dầu

Tiến sĩ Barbara Ann Halkier, trưởng trung tâm DynaMo của đại học Copenhagen, một trong những nhà khoa học phát triển việc thu hoạch hạt dầu non với tính trạng tốt hơn. Cô giải thích ‘Hạt dầu non không phát triển ở những khu vực ấm và khô hạn. Chúng tôi rất vui mừng khi thành công trong việc trồng cây mù tạc theo kỹ thuật tách vườn, nó có liên hệ với việc làm cây cải dầu. Kết quả thu hoạch hạt dầu với những đặc trưng nông học phát triển là cách để giảm việc trái đất nóng lên. Thu hoạch sớm giúp việc trồng trọt trên các vùng ngày nay không còn phù hợp với việc thu hoạch hạt dầu, như vùng phía Tây Canada, vùng Đông Âu, Úc, và Ấn Độ’

Những hỗn hợp chất đắng không phù hợp làm thức ăn động vật

Cây mù tạc cũng giống như hạt cây cải dầu. Nó trông như cây cây cải dầu và dầu của nó có những đặc tính hấp dẫn với hàm lượng cao mono- và a-xít-béo như ô-mê-ga 3 và 6 thêm các vi-ta-min và chất chống ô-xy hóa. Tuy nhiên, nó cũng cho ra nhiều hạt thô khi trồng trong điều kiện a-xít. Vì vậy mù tạc là loại có thể thay thế hạt dầu cây cải dầu.

‘Đến nay nó là thách thức khó khăn vì hạt mù tạc có chứa chất đắng và tạo nên mùi vị của nó. Kết quả cho thấy rằng hàm lượng pro-tê-in cao  trong hạt sau khi ép dầu từ hạt sẽ không được dùng để sản xuất thức ăn động vật’ Barbara Ann Halkier giải thích.

Việc hợp tác với Bayer CropScience- một trong những công ty lớn toàn cầu trong lĩnh vực công nghệ y sinh và nuôi trồng- cô và những nhà khoa học từ trung tâm DynaMo đã tìm ra giải pháp cho vấn đề này.

Từ cây mẫu đến thu hoạch hạt dầu

Những nhà khoa học từ Trung tâm DynaMo đã chế tạo kỹ thuật loại bỏ chất đắng ra khỏi hạt trong khi duy trì chúng ở vùng đất khác để tránh khỏi những động vật ăn cỏ và mầm bệnh.

Những nhà khoa học Đan Mạch cho thấy kỹ thuật có lợi cho cây mẫu trong khi những nhà khoa học từ Bayer CropScience thực hiện kỹ thuật này trên những cánh đồng và cho thấy kết quả ở vùng đất mẫu trồng thử bằng việc tập trung vào cây mù tạc.

Tiến sĩ Svend Roesen Madsen từ Trung tâm DynaMo và là tác giả đầu tiên của quyển sách Kỹ thuật y sinh tự nhiên cho biết:

‘Những vùng đất mẫu chúng tôi có một lịch trình dài cho chúng. Tôi cho rằng chúng tôi có hơn ¾ đất thu hoạch hạt dầu thô rất hấp dẫn cho nông dân. Điều này là kết quả đáng kinh ngạc’

Tìm kiếm lâu dài cho thu hoạch hạt dầu

Những nhà khoa học và gây giống tìm kiếm loại hạt dầu cây cải dầu khác trong nhiều năm. Cây cải dầu là một trong những nguồn chính để lấy dầu thực vật, và đạm cho thức ăn động vật. Tuy nhiên, nó chỉ lớn trong khí hậu mát mẻ và mỗi năm nông dân giảm việc thu hoạch bởi vì cây cải dầu không chịu nổi sâu bệnh.

‘Vào những năm 1970, nông dân Ba Lan tìm được cây cải dầu với hàm lượng chất đắng thấp trở thành thu hoạch hạt dầu mang tính kinh tế cao’, tác giả đầu tiên của Hiệp hội tiến sĩ  Hussam H.Nour-Eldin – cũng là thành viên của Trung tâm DynaMo. Ông nói tiếp: ‘Từ những năm 70, nông dân và nhà khoa học cố gắng cải tạo nhiều giống cây mù tạc khác nhau. Chúng tôi tự hào rằng chúng tôi đã phát minh ra kỹ thuật giúp đạt hiệu quả lâu dài’. Trong vài năm tới, những nhà khoa học từ trường đại học Copenhagen và Bayer CropScience sẽ nghiên cứu để giảm lượng chất đắng trong cây mù tạc nhiều hơn. Họ hi vọng sẽ tạo nên cây mù tạc không còn chất đắng ở hạt trong vòng từ 2-3 năm tới.

 

Đặc trưng tính cách và những kỹ năng cần thiết cho một nhà hải dương học

Nhà hải dương học nghiên cứu những loài thực vật và động vật ảnh hưởng bởi môi trường dưới nước, và môi trường ảnh hưởng đến thực vật và động vật như thế nào. Họ nghiên cứu các vấn đề như sự phân bố động thực vật, chuỗi thức ăn, sự tái tạo và tập tính cộng đồng. Trong khi những Nhà hải dương học có thể làm ở công ty địa phương hoặc tại văn phòng, công việc của họ làm đòi hỏi di chuyển đi xa hơn nơi họ sống. Yêu thích công việc và giải quyết các số liệu là một yêu cầu thiết yếu cho một nhà hải dương học.

Tính cách

Dựa trên đánh giá về đời sống dưới biển, Nhà hải dương học phải có khả năng về khoa học, sự quan sát và một đầu óc tìm tòi học hỏi đối với thế giới xung quanh, kiên nhẫn, giỏi phân tích các dữ liệu. Họ có thể làm việc một mình hoặc với cả nhóm, có thể lực tốt để có thể di chuyển làm việc tại các nơi xa xôi. Nhà sinh vật học biển kiêm giáo sư Jeffrey Levinton, thuộc đại học New York tại Stony Brook, có cuộc phỏng vấn về yêu cầu dành cho một nhà hải dương học, họ cần yêu thích công việc ngoài trời để có những trải nghiệm khoa học. Họ cũng cần người giao tiếp giỏi. Theo như giáo sư Levinton cho biết, nhà sinh vật học phải nghĩ và có những ý tưởng mới. Bởi vì làm việc với những dữ liệu rất quan trọng,  phòng Lao động Mỹ trang web O* Net cho biết những nhà sinh vật học cần giải quyết những thông tin ban đầu theo những cách khác nhau. Họ cũng phải có tầm nhìn để tìm ra những chi tiết.

Kỹ năng

Nhà hải dương học phải đạt yêu cầu về khả năng toán học, khoa học thông qua chương trình học và trải nghiệm và rèn luyện kỹ năng giao tiếp, viết và nói. Họ cũng phải có kỹ năng chủ động lắng nghe, nên họ phải tập trung chú ý những gì người khác biểu cảm mà không làm họ phân tâm, Trang O*NET cho biết.

Tham quan các Viện Hải Dương lớn ở Việt Nam
Là một nhà hải dương học tương lại bạn phải biết một số viện Hải Dương học ở Việc Nam
*Viện Hải Dương học Nha Trang – Viện được xây dựng năm 1923 hiện vẫn đang thu hút rất nhiều khách Du lịch
*Thủy Cung Vinpearl Aquarium Times City– Tọa tại Hà Nội, nhiều sinh vật biển lạ, quý hiệm độc đáo có một số loài lần đầu có mặt tại Việt Nam

Trang thiết bị và kỹ năng công nghệ

Biết cách dùng những trang thiết bị chuyên dụng và máy tính, phần mềm và công nghệ khác rất quan trọng đối với những nhà khoa học như nhà sinh vật học. Ví dụ, họ phải dùng thiết bị thu thập thông tin như mạng lưới sinh vật phù du cho mẫu sinh vật. Họ phải dùng nhiều thiết bị để đo lường như những công cụ đo nồng độ muối để xác định hàm lượng muối trong nước. Trong phòng thí nghiệm, họ dùng máy đếm để đếm vi sinh vật trong nước và máy đo ô-xy để đo lượng sinh vật thở dưới biển. Nhà hải dương học phải biết dùng những chiếc thuyền thám hiểm, phải biết lặn biển, và kỹ năng chụp ảnh và quay phim dưới nước. Nhà hải dương học yêu cầu biết kỹ năng điều khiển rô bốt, như việc điều khiển những con rô bốt hoạt động từ xa (ROVs)

 

Trình độ giáo dục và mức lương

Làm việc như một nhà sinh vật biển yêu cầu ứng viên phải có bằng Thạc sĩ. Vài người chỉ có bằng đại học và làm công việc không nghiên cứu chuyên sâu như trợ lí phòng thí nghiệm. Để trở thành một nhà hải dương học bạn cần có bằng đại học về khoa học tổng quát như sinh vật hoặc thú y. Đặc biệt trong ngành sinh vật biển chỉ giảng dạy tại các trường đào tạo cao học, trong những môn học tại các lớp thạc sĩ hoặc tiến sĩ. Như một phân ngành nhỏ, nghề sinh vật biển có thể khó tìm việc và mức lương chỉ ở mức trung bình. Dựa vào bài báo hiệp hội bảo tồn sinh vật biển, những người có bằng đại học sẽ kiếm được trung bình từ 30,000 đến 40,000 đô la Mỹ một năm, người có bằng thạc sĩ kiếm trung bình từ 40,000 đến 50,000 đô la Mỹ một năm, và tiến sĩ có thể kiếm trên 100,000 đô la Mỹ.

Bộ gen của Quinoa giúp giải quyết vấn đề thực phẩm

Một nhóm nhà khoa học thế giới là những chuyên gia trong việc cho ra giống quinoa có sản lượng cao và an toàn từ trường đại học và nghiên cứu Wageningen đã đăng tải kết quả DNA hoàn chỉnh của quinoa – thu hoạch quinoa sẽ lan rộng đến toàn thế giới từ Nam Mỹ- trong tạp chí Thiên nhiên ngày 8 tháng 2 năm 2017. Quinoa giàu các amino acids cần thiết, chất xơ giàu dinh dưỡng và không chứa gluten.

Việc thu hoạch trở nên quan trọng đối với những người nông dân bởi vì nó cho ra sản lượng hợp lí mặc dù quinoa được trồng trên loại đất kém màu mỡ. Người gây giống đã đăng tải kiến thức mới về gen DNA của quinoa, người gây giống cũng là người sẽ phát triển nhiều loại quinoa có thể phát triển tốt trong môi trường đất khô cằn nhưng vẫn đạt yêu cầu về chất lượng và hương vị cho khách hàng.

Những nhà khoa học khẳng định kết quả bộ gen DNA của toàn bộ gen quinoa. Tổng chiều dài của DNA gồm hơn 1.3 tỉ DNA thành phần (các nu-lê-ô-tít A,C,G, hoặc T) được chia thành hơn 18 rô-mô-sôm. Khi họ in trên giấy số lượng trang giấy cho cả bộ gen in ra hơn 500,000 tờ.

Để vẽ sơ đồ bộ gen, những nhà khoa học đã dùng đến sự kết hợp thông minh của những công nghệ gen khác nhau. Trong khi điều này giúp chúng tạo nên những bộ gen lớn hơn trong máy tính từ hàng loại thông tin gen hiện có, nó không đưa đến 18 phần tử thể hiện cho 18 rô-mô-sôm. Những nhà khoa học áp dụng bản đồ gen cho việc lai tạo giống cây trồng để xác định những gen đánh dấu được di truyền vào thế hệ sau như thế nào. Điều đó cho phép chúng giữ lại hầu hết gen trên 18 khung gen thể hiện rô-mô-sôm của quinoa.

Dựa theo Robert van Loo, chuyên gia trong việc gây giống quinoa tại đại học và nghiên cứu Wageningen, nó là sự lai tạo cho phép những nhà khoa học hiểu rõ hơn về bản đồ gen. ‘Chúng ta có thể xác định vị trí trên rô-mô-sôm chính xác không quá 85% theo kết quả của gen. Nó phần lớn là nguồn lợi cho người gây giống’.

Van Loo và những cộng sự sẽ áp dụng kiến thức mới bằng nhiều cách khác nhau, bao gồm việc phát triển các loài quinoa khác nhau để chúng đạt sản lượng nông dân và khách hàng yêu cầu. Van Loo cho biết: ‘Ví dụ, chúng ta đã tìm thấy sự thay đổi để chắc chắn rằng sự nhân giống quinoa hiện tại không thể cho ra vị đắng của xa-pô-nin. Có những dạng ngọt khác nhau nhưng không cần làm nó đậm lên để loại bỏ bị đắng, điều này làm tiết kiệm 15-20% . Với kiến thức mới của gen quinoa, chúng ta có thể dễ dàng nhanh chóng chọn lọc các loài thực vật không sản sinh ra chất đắng trong quá trình gây giống’.
Trong tương lai, những nhà khoa học có thể chắc chắn sự nhân giống cũng như việc thích ứng tốt với điều kiện sinh trường ở một vài vùng đất , và không sản sinh chất đắng.

‘Gây giống hướng đến sự thay đổi gen trực tiếp có thể là cách tiếp cận tốt trong vấn đề này với sự nhân giống chứng minh cho giá trị của chúng từ lúc bắt đầu’ Van Loo cho biết. ‘Sự nhân giống quinoa hiện đang được trồng tại Nam Mỹ có thể làm cho nó ngọt lên’

Cuộc nghiên cứu của Trường đại học khoa học và công nghệ vua Abdullah tại Ả rập Sau-đi, vùng đất với điều kiện phát triển khô cằn và đầy đá sỏi đối với thực vật. Nhóm nghiên cứu trường đại học Wageningen cho ra kết quả gen và những nhà hoa học gây giống đã góp phần vào dự án nghiên cứu này. Nó là nhóm Wageningen giúp tìm ra việc điều chỉnh các sơ đồ gen cho sự sản xuất xa-pô-nin.

Những cư dân cổ đại ở dãy An-đét đã dùng quinoa như một loại thực phầm quan trọng. Nó đã bị mất đi bởi cuộc chiến xâm lược của người Tây Ban Nha, tuy nhiên tại sao quinoa không bao giờ thuần chủng và phù hợp với sinh dưỡng tại vùng đất mặc dù các vụ thu hoạch đều tốt.

Một trong những hình thái làm quinoa ít cuốn hút hơn là sự xuất hiện của chất đắng ở bên ngoài hạt. Được biết đến như là sa-pô-nin, những hợp chất có thể được loại bỏ mặc cho quá trình về tài chính, thời gian, tiền và nước. Đại học và nghiên cứu Wageningen đã phát triển nên 4 loại quinoa khác nhau không có chất đắng từ những năm 1990.

Quinoa là một phần trong gia đình thực vật được biết đến với sức sống mãnh liệt trong điều kiện đất đai kém màu mỡ. Hiện nay có nhiều loại quinoa để sản xuất thực phẩm nơi thu hoạch những loại thực phầm khác như lúa mì và gạo có cất dinh dưỡng thấp. Kết quả, quinoa là loại thực phầm giúp sản xuất thêm nhiều sản lượng với ít nước và phân bón. Kiến thức mới về gen sẽ giúp phát triển những loại quinoa khác nhau đáp ứng nhu cầu của khách hàng và nông dân.

Kỹ thuật sinh học mới làm tăng tỉ lệ thu hoạch vụ mùa lên 20%

Những nhà khoa học từ Đại học Illinois đã thúc đẩy tỉ lệ thu hoạch trong cuộc cách mạng về gen bằng cách tăng lượng quang hợp.

UN cho rằng vào 2050, loài người sẽ cần đến hơn 70% lượng thực phẩm hiện nay. Những nhà khoa học cho biết khám phá mới sẽ là cầu nối giúp tăng nguồn thực phầm khi tình hình dân cư tăng cao.

Như mô hình trên máy tính dự đoán, các loài thực vật thể hiện sự thay đổi tốt hơn khi dùng ánh sáng mặt trời có sẵn.

Kỹ thuật làm giảm hiệu xuất của cây. Khi ánh mặt trời quá gắt, thực vật kích hoạt cơ chế phòng thủ bằng việc cho năng lượng thừa chuyển thành nhiệt, gọi là cơ chế hoạt động bảo vệ khỏi ánh mặt trời.

Tuy nhiên, một khi ánh sáng giảm, quá trình bảo vệ này có thể mất đến 30 phút để dần mất đi, kết quả là mất cơ hội quang hợp. Thực vật làm lãng phí ánh sáng và nhiệt khi ánh sáng được cho là cần thiết nhất.

Sử dụng phương thức biến đổi gen, những nhà khoa học chú tâm đến các vấn đề bằng việc thúc đẩy tam quang hợp- dựa trên prô-tê-in

Những loài thực vật có thể chuyển quang hợp nhanh hơn bình thường. Thí nghiệm được thực hiện trên cây thuốc phiện, Nicotiana tabacum, và có 3 hướng để kiểm tra, 2 trong số đó tăng hiệu xuất đa sinh vật lên đến 20%, trong khi cách thứ 3 tăng 14%.

Nó có thể xuất hiện một cách đột ngột những loài thực vật không liên quan cho đến việc giải quyết việc không hiệu quả của chúng. Điều này xảy ra bởi vì hiệu xuất của quang hợp không là yếu tố giới hạn sự phát triển của thực vật trong rừng, nhưng nhiều hơn sự tồn tại của ni-tơ.

Trong nhiều năm, cộng đồng khoa học chủ trì hội nghị giúp tăng năng xuất thông qua việc biến đổi gien bằng việc quang hợp của thực vật.

Những kết quả được đăng tải lên báo khoa học là nội dung của nghiên cứu đầu tiên.

Quỹ Bill và Melinda Gates gây quỹ cho nghiên cứu tiên phong, và chuyển giao kỹ thuật để áp dụng cho gạo, đậu nành.

‘Chúng ta không biết chính xác nếu phương pháp này tiến hành và sẽ có hiệu quả trên những loại thực vật khác, nhưng bởi vì chúng ta đang đặt mục tiêu về quá trình toàn cầu đối với tất cả đợt mùa vụ khác, chúng ta chắc chắn rằng chúng sẽ được thực hiện’ Giáo sư Stephen Long, người khởi xướng cho đợt nghiên cứu này.

Việc biến đổi gien là một chuỗi dài của việc kích hoạt các phản ứng mãnh liệt. Hầu hết những quốc gia Châu Âu cấm thực phẩm biến đổi gien. Chiến dịch chống biến đổi gien liên quan đến việc chuyển gien từ một loài sang một loài khác. Tuy nhiên kỹ thuật mới giúp giải đáp những băn khăn bởi vì nó chỉ tăng lượng chất đạm tồn tại trong những loài thực vật.

Tiến sĩ Long cho rằng ‘ Thái độ của tôi rất quan trọng trong việc phát triển kĩ thuật mới bởi vì nó mất đến 20 năm trước khi phát minh đến tay người nông dân’

Mỗi năm, những nước phát triển lãng phí nhiều thức ăn khoảng 230 triệu tấn. Việc xem xét lại hệ thống kinh tế bởi Holy Grail để đàm bảo việc bảo vệ lương thực.

Sau đó, những kỹ thuật mới tăng năng xuất mà không xâm phạm đến thế giới tự nhiên thì rất cần thiết.

Thực vật giúp thay đổi khí hậu, nhưng hiện nay nó tùy thuộc vào chúng ta

Những bằng chứng khẳng định những dự tính trong hội nghị đa quốc gia trong mô hình thay đổi khí hậu.

Thực vật hiện nay loại bỏ nhiều CO2 từ môi trường hơn 200 năm về trước, dựa trên công việc mới từ Carnegie’s Joe Berry và được dẫn bởi J. Elliott Campbell của UC Merced. Bằng chứng của nhóm được đăng tải trong tạp chí Tự nhiên, khẳng định bằng chứng dùng trong các mô hình từ hội nghị đa quốc gia về sự thay đổi khí hậu.

Thực vật nhận CO2 như một phần của quá trình quang hợp – một chuỗi phản ứng của tế bào thông qua những chuyển hóa năng lượng Mặt trời thành năng lượng hóa học cho thực phẩm. Cuộc nghiên cứu này từ Campbell, Berry và đồng nghiệp của họ xây dựng một lịch sử mới về sự thay đổi toàn cầu trong hoạt động quang hợp.

Chỉ những loài thực vật được trồng trong nhà kính phát triển nhanh hơn và mạnh hơn khi cung cấp hàm lượng cao khí CO2, những loài thực vật trong hệ thống sinh học tự nhiên được hi vọng tăng trưởng nhanh hơn khi lượng CO2 trong không khí toàn cầu tăng lên. Theo góc nhìn toàn cầu, hiệu ứng này có thể được kì vọng nhiều về việc ổn định hệ thống khí hậu bằng việc chống lại việc tăng lượng khí CO2 từ con người.

Tầm quan trọng của hiệu ứng này dưới cuộc tranh luận. Nó có thể mở rộng phạm vi toàn cầu thay vì thí nghiệm trong phạm vi nhà kính có được hay không? Hoặc những yếu tố khác giới hạn phản ứng hệ thống toàn cầu tăng hiệu ứng nhà kính do khí thải? Theo như việc ghi chép trong thời gian dài, chúng ta có lượng CO2 và nhiệt độ cần thiết để gửi đến các đề án về thay đổi khí hậu.

‘Chúng ta hoàn thành vài việc mới tại nơi đây’ Campell cho biết. ‘Đo lường độ quang hợp chính xác của từng loại lá. Tuy nhiên bạn không thể có bức tranh toàn cảnh và chúng ta cần biết rằng Trái Đất đang chuyển động và nó phản ứng lại qua thời gian’

Nhóm thực hiện những công việc trước đó để cho thấy về việc tập trung của các-bon-sun-phíc trong không khí có thể cho thấy mức độ quang hợp toàn cầu. Họ tái lập lại lịch sử bằng cách dùng không khí của băng và khối tuyết tại Nam Cực trong nhiều thế kỉ, quang phổ tia hồng ngoại tồn tại từ những thập niên 1970, và dữ liệu từ Quản lí Đại Dương và Khí Tượng cho biết mạng lưới mẫu khí ga các-bon-sun-phíc tại nhà kính bắt đầu được quản lí từ cuối thập niên 1990.

Kết quả cho thấy rằng sự quang hợp trên toàn cầu ổn định suốt hàng trăm năm qua trước khi có cuộc các mạng công nghiệp hóa, nhưng sau đó chúng phát triển quá nhanh suốt thế kỉ 20. Việc tăng cường quang hợp có mối liên hệ với việc tăng lượng CO2 trong không khí do việc đốt cháy nhiên liệu.

‘Hiện tượng cây thải ra CO2 vào không khí cũng là nguyên nhân của việc thay đổi khí hậu trong nhiều năm nay’ Berry giải thích, ‘nhưng điều đó thực sự khó khăn để biết sức mạnh của việc ảnh hưởng trong khía cạnh thực tế. Kết quả mới của chúng tôi cho rằng hàng loại những mô hình được dùng trong bài kiểm định IPCC, trong thực tế, bao gồm những ước lượng thực tế về quang hợp toàn cầu và CO2’

‘Nó có thể hấp dẫn trong việc truyền tải những kết quả và là bằng chứng về chức năng của Trái Đất cũng là phản hồi về sự tập trung ổn định CO2 và khí hậu’ Berry cho biết. ‘Nhưng khi nhu cầu thực sự tăng lên trong khi đó quang hợp không nhiều đủ để bù đắp cho việc đốt cháy nhiên liệu. Việc làm ngược lại với tự nhiên không còn là công việc nên ngày nay chúng ta sẽ phải tập trung giải quyết việc giảm lượng CO2 trong không khí’

 

 

Việc dùng công nghệ Zeelung để xử lí nước thải thực vật tại Châu Âu

Đáp ứng những yêu cầu mới cấp thiết về việc loại bỏ ni-tơ trong khi vẫn lưu lại dấu vết, công ty xử lí nước thải của Flanders, Aquafin đã chọn việc nâng cấp xử lí nước thải thực vật Schilde bằng cách tổng hợp những phương án giải quyết bằng công nghệ phản ứng ZeeLung lấy ô xy cho màng tế bào tác động lên màng sinh chất (MABR) và phản ứng của màng tế bào ZeeWeed (MBR). Thực vật trồng tại vùng thôn quê nước Bỉ của Antwep, sẽ là nơi đầu tiên tại châu Âu dùng phương pháp mới ZeeLung MABR.

Tiến trình kỹ thuật nước của GE cho ra hệ thống với 50% nước thải được xử lí bởi ZeeWeed 500D MBR và phần còn lại 8 triệu lít mỗi ngày được xử lí bởi hệ thống kích hoạt nước cống rãnh thông thường. Thêm ZeeLung MABR cho cây cối sẽ giúp cải thiện toàn bộ ni-tơ bị loại bỏ trong hệ thống kích hoạt nước cống rãnh thông thường.

Video youtube giới thiệu ZeeLung MBR

Cây cối được thiết kế một cách độc đáo cho việc xử lí cho 28,000 người (khả năng chạy bằng sức nước và sinh vật). Khả năng xử lí thực tế của việc xử lí nước thải thực vật Schilde tăng lên đến 35,000 người. Vì vậy vào năm 2015, khả năng xử lí sinh học tăng lên bằng việc mở rộng khả năng màng sinh chất của MBR và thiết lập việc lọc cát sau khi khử ni-tơ  tại các nhánh của hệ thống nước cống rãnh đang hoạt động.

‘Việc dùng ZeeLung và ZeeWeed cùng nhau giúp cho mở rộng việc xử lí nước thải thực vật, sẽ cho phép Aquafin hoàn thành việc nâng cấp với sự thay đổi tối thiểu và sẽ không cần xây thêm chỗ chứa mới. Thêm vào đó, họ sẽ có thể đáp ứng tổng lượng ni-tơ hàng năm’ Alain Mineur cho biết, CEO của Kamps

Xử lí nước thải thực vật Schilde là hệ thống MBR lớn nhất thành thị tại Flanders, và việc nâng cấp được hoàn thành bởi KAMPS SA. Sau khi việc mở rộng hoàn thành vào quý một năm 2017, thực vật chiếm đến 65% tổng lượng ni-tơ bị loại bỏ.

‘Tiến trình kỹ thuật và nước’ cách giải quyết của ZeeLung và ZeeWeed về cuộc gặp mặt trong phạm vi thực vật. Xử lí nước thải thực vật Schilde cần nâng cấp để tăng khả năng loại bỏ chất dinh dưỡng và dùng Zeelung, thực vật sẽ giảm việc tiêu thụ năng lượng’ Kevin Cassidy nói, lãnh đạo toàn cầu, kỹ thuật hệ thống – Tiến trình kỹ thuật và nước. ‘Dự án là áp dụng đầu tiên của kỹ thuật ZeeLung mới tại châu Âu.’

Kỹ thuật ZeeLung MABR là giải pháp đơn giản cho phép những thành phố tự trị đạt đến việc loại bỏ các chất dinh dưỡng và/hoặc có thể mở rộng số lượng hồ chứa hiện tại trong khi giảm mạnh việc sử dụng năng lượng. Nó cải tiến chất khí trong việc chuyển hóa từ màng tế bào để cung cấp ô-xy đến màng sinh chất – gắn liền với bề mặt màng tế bào. Cho dung dịch làm tăng lượng vi sinh vật vào hệ thống xử lí giúp tăng cường việc quá trình xử lí sinh vật. Ô-xy chuyển đến màng sinh chất bằng việc khuyếch tán thông qua màng tế bào, giảm năng lượng yêu cầu cung cấp ô-xy gấp 4 lần so với việc lấy ô-xy

Về nước và tiến trình công nghệ

Với việc hoạt động tại 130 quốc gia và thuê hơn 7,500 người trên khắp thế giới, nước và tiến trình công nghệ của GE ứng dụng những cải tiến, chuyên môn hóa và khả năng toàn cầu để giải quyết các vấn đề nan giải nhất về nước và những tiến trình mang tính thách thức. Nó cho ra hàng loạt các cách giải quyết về hóa chất và thiết bị, cũng như những dự đoán phân tích để tăng lượng nước, nước thải và quá trình hiệu xuất. Nước và tiến trình công nghệ cố gắng giúp những khách hàng tăng nhu cầu nước sạch, vượt qua những thách thức về việc khan hiếm nguồn nước, tăng cường việc quản lí môi trường và thực hiện những yêu cầu theo quy định.

Về GE

GE là công ty thế giới về Công nghệ điện tử, chuyển giao công nghệ với phần mềm – xác định những chiếc máy và giải pháp kết nối, phản ứng nhanh, và dự đoán. GE được tổ chức toàn thế giới về việc trao đổi kiến thức, một cửa hàng GE thông qua những cổ phần công ty và tiếp cận  cùng lĩnh vực kĩ thuật, cấu trúc và khả năng hiểu biết. Mỗi phát minh cải tiến nguyên liệu và ứng dụng khắp những khu vực công nghệ. Với con người, dịch vụ, kỹ thuật, GE mang đến những kết quả tốt hơn cho khách hàng bằng việc dùng ngôn ngữ tại nước sở tại. Để biết nhiều thông tin hơn, vui lòng truy cập Ge.com

 

Mô tim phát triển trong những chiếc lá rau bi-na

Những nhà khoa học đối mặt với thách thức lớn khi họ tìm kiếm việc vẽ bản đồ theo tỉ lệ tái tạo mô ở người từ những mẫu vật trong phòng thí nghiệm đến những mô, xương, và nội tạng được cấy trong cơ thể người kích thước chuẩn để trị liệu cho người và những vết chấn thương: làm thế nào để tái tạo hệ thống mạch máu để vận chuyển máu đến những mô mới phát triển.

Kĩ thuật công nghệ y sinh hiện nay, bao gồm in 3D, không thể chế tạo hệ thống các nhánh mạch máu đến mao mạch, điều đó đòi hỏi việc cung cấp ô-xy, chất dinh dưỡng, và các phân tử cần thiết cho việc phát triển mô. Để giải quyết vấn đề này, nhóm nghiên cứu tại Viện công nghệ Worcester, trường đại học Wiscosin và Trường đại học bang Arkansas thành công trong việc chuyển đổi phương pháp cấy mô.

Họ thông báo những phát minh đầu tiên trên tạp chí ‘Băng qua mọi lĩnh vực: Sử dụng các cây đã được loại bỏ tế bào như khung kỹ thuật mô’ đăng tải trực tuyến vào tháng 5 năm 2017 trên tạp chí Vật chất sinh học.‘Những loài cây và động vật được khai thác bằng những cách tiếp cận khác nhau đến việc truyền chất lỏng, hóa chất và những phân tử siêu nhỏ, có những sự giống nhau trong cấu trúc hệ thống mạch máu’ người viết đã viết. ‘Sự phát triển những cây loại bỏ tế bào giúp mở ra tiềm năng cho các phân nhánh khoa học mới nghiên cứu giống hệt giữa thực vật và động vật.’Trong chuỗi các thí nghiệm, nhóm cấy tế bào tim người lên lá rau bi na đã được tách lấy tế bào thực vật.

Chúng chảy chất lỏng và những hạt nhỏ li ti giống kích thước của tế bào máu thông qua các mạch nhỏ của rau bi na, họ cấy mạch của rau bi na với tế bào người tạo nên những mạch máu. Những minh chứng của việc nghiên cứu mở ra việc dùng rau bi na để cấy cơ tim khỏe cho người mắc bệnh tim mạch. Những thực vật loại bỏ tế bào có thể cung cấp nền tảng cho công nghệ kỷ thuật mô. ‘Chúng ta có niều việc để làm, nhưng điều này đang rất hứa hẹn tiềm năng’ Glenn Gaudette, tiến sĩ, giáo sư của kỹ thuật y sin tại WPI và thư của người viết cho tạp chí. ‘Việc làm thích ứng các loại cây cối được nông dân trồng hàng ngàn năm được dùng trong kỹ thuật mô để giải quyết các vấn đề trong lĩnh vực này’.

Thêm vào đó, nhóm nghiên cứu WPI bao gồm Tanja Domino, tiến sĩ, giáo sư ngành sinh vật và y sinh, người nghiên cứu cơ cấu máy móc phân tử của việc phát triển tế bào con người, Pamela Weathers, tiến sĩ, giáo sư ngành sinh vật và y sinh, nhà thực vật sinh vật học, và Marsha Rolle, tiến sĩ, giáo sư ngành kỹ sư y dược, người tập trung vào kỹ thuật về mô mạch. Đội ngũ cộng tác bao gồm những nhà nghiên cứu về tế bào mô người và thực vật tại Wiscosin và Arkansas. ‘Dự án này cho thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu học thuật’ Gaudette cho biết. ‘Khi bạn có nhiều bạn bè giỏi về các lĩnh vực khác nhau sẽ dẫn đến các vấn đề từ các khía cạnh khác nhau, những cách giải quyết không thỏa đáng có thể xuất hiện’Bài viết của tác giả đầu tiên là Joshua Gerslak, một sinh viên cao học tại phòng thí nghiệm của Gaudette, người giúp thiết kế và thực hiện các thí nghiệm, người phát triển quá trình hiệu quả cho việc loại bỏ các tế bào thực vật từ lá rau bi-na bằng việc cho chảy những dung dịch chất tẩy thông qua các mạch lá. ‘Tôi hoàn thành việc loại bỏ tế bào tim người trước và khi tôi thấy lá rau bi-na cuống lá cho ta liên tưởng đến động mạch chủ. Nên tôi nghĩ đến việc đổ vào ngay cuống lá’ Gershlak cho biết. ‘ Chúng ta không chắc rằng điều đó hiệu quả, nhưng nó  khá dễ dàng và có thể thay thế được. Nó hiệu quả ở các loài thực vật khác nhau

.Khi những tế bào thực vật được rửa sạch và giữ lại phần khung làm chủ yếu từ cen-lu-lô-dơ, chất tự nhiên không gây hại cho người. Cen-lu-lô-dơ là chất tương hợp và được dùng rộng rãi trong việc áp dụng phục hồi bằng thuốc, như mô sụn, mô xương, và chữa trị vết thương’ người viết cho biết.Bên cạnh đó lá rau bi na, nhóm loại bỏ tế bào thành công từ ngò tây, cây ngải tây và rễ cây đậu phộng. Họ hi vọng rằng kĩ thuật sẽ hiệu quả đối với các loài thực vật có thể được ứng dụng cho những nghiên cứu phục hồi mô. ‘Lá rau bi-na có thể kết hợp tốt hơn với mô mạch, giống như các mô tim, bên cạnh đó cuống lá có hình trụ rỗng có thể phù hợp hơn trong việc cấy ghép động mạch. Mạch gỗ có thể hữu ích trong kỹ thuật xương bởi vì sức mạnh liên kết và hình học’ tác giả viết.

Việc dùng những loài thực vật như nền tảng cho công nghệ mô cũng mang đến lợi ích về kinh tế và môi trường. ‘Bằng việc nghiên cứu hóa chất của mô thực vật, chúng ta có thể chỉ ra nhiều hạn chế và giá cả tăng lên của những vật chất nhân tạo và nhựa phức hợp. Thực vật có thể dễ dàng được trồng trong điều kiện nông nghiệp tốt và dưới sự kiểm soát chặt chẽ. Bằng việc kết hợp mô thực vật với dịch truyền – dựa trên việc loại bỏ tế bào, chúng ta sẽ cho thấy rằng có cách thay thế cho nền tảng kĩ thuật mô trước khi tạo nên các mạch máu.

Tại WPI, nghiên cứu tiếp tục tiến hành trong vài lần, Gaudette cho biết, với những nghiên cứu mang tính khách quan về quá trình loại bỏ tế bào và tính chất các loại tế bào khác nhau của con người trong khi chúng được gắn liền và nuôi dưỡng bằng các nền tảng thực vật. Bên cạnh đó, kĩ thuật mạng lưới mạch thứ yếu cho máu và dịch chất lỏng từ mô sẽ được nghiên cứu. Vào 7 tháng 4, 2017, Gershlak sẽ trình bày công nghệ và sớm được mời đến Đại hội Hàn Lâm quốc gia dành cho những nhà sáng chế và phát triển sinh viên tại Boston, nơi anh ta sẽ trình bày chi tiết về công việc nghiên cứu với hơn 200 nhà nhà sáng chế và những người đứng đầu kinh tế- kĩ thuật.